BOD, COD, TOC, FOG Trong Nước Thải Chế biến Thủy Sản

BOD, COD, TOC, FOG Trong Nước Thải Chế biến Thủy Sản

Nước thải chế biến thủy sản này chứa phần lớn các chất thải hữu cơ có nguồn goc từ động vật và có thành phần chủ yếu là protein và các chất béo. Trong hai thành phần này, chất béo khó bị phân hủy bởi vi sinh vật.

Các chất hữu cơ chứa trong nước thải chế biến thủy sản chủ yếu là dễ bị phân hủy. Trong nước thải chứa các chất như cacbonhydrat, protein, chất béo,… khi xả vào nguồn nước sẽ làm suy giảm nồng độ oxy hòa tan trong nước do vi sinh vật sử dụng ôxy hòa tan để phân hủy các chất hữu cơ.

Nồng độ oxy hòa tan dưới 50% bão hòa có khả năng gây ảnh hưởng tới sự phát triển của tôm, cá. Oxy hòa tan giảm không chỉ gây suy thoái tài nguyên thủy sản mà còn làm giảm khả năng tự làm sạch của nguồn nước, dẫn đến giảm chất lượng nước cấp cho sinh hoạt và công nghiệp.

Các chất rắn lơ lửng làm cho nước đục hoặc có màu, nó hạn chế độ sâu tầng nước được ánh sáng chiếu xuống, gây ảnh hưởng tới quá trình quang hợp của tảo, rong rêu,… Chất rắn lơ lửng cũng là tác nhân gây ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên thủy sinh đồng thời gây tác hại về mặt cảm quan (tăng độ đục nguồn nước) và gây bồi lắng lòng sông, cản trở sự lưu thông nước và tàu bè,…

Mức độ ô nhiễm hữu cơ của nước thải thủy sản được thể hiện qua 4 yếu tố:

  • BOD5 là nhu cầu oxy sinh hóa năm ngày
  • COD là nhu cầu oxy hóa học
  • TSS là tổng chất rắn lơ lửng
  • FOG là chất béo, dầu và mỡ.

Một nghiên cứu cho thấy nước thải từ sản xuất cá đáy có BOD5 200 – 1000 mg/L, COD 400 – 2000 mg/L, TSS 100 – 800 mg/L và FOG 40 – 300 mg/L. Nước thải từ sản xuất bột cá có BOD5 là 100 – 24.000 mg/L, COD 150 – 42.000 mg/L, TSS 70 – 20.000 mg/L và FOG là 20 – 5000 mg/L còn cá ngừ có BOD5 là 700 mg/L, COD là 1600 mg/L.

Nước thải thủy sản đôi khi có chứa nồng độ clorua cao từ nước chế biến và dung dịch nước muối, và nitơ hữu cơ lên ​​đến 300 mg/L.

BOD, COD, TOC, FOG Trong Nước Thải Chế biến Thủy Sản

BOD: Nhu cầu oxy sinh hóa trong nước thải chế biến thủy sản

Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) ước tính mức độ ô nhiễm bằng cách đo oxy cần thiết cho quá trình oxy hóa chất hữu cơ của vi sinh vật chuyển hóa hiếu khí. Trong nước thải chế biến hải sản, nhu cầu oxy này bắt nguồn chủ yếu từ hai nguồn.

Một là các hợp chất carbonate được sử dụng làm chất nền bởi các vi sinh vật hiếu khí; nguồn khác là các hợp chất chứa nitơ thường có trong các chất thải chế biến hải sản, như protein, peptide và các amin dễ bay hơi. Các xét nghiệm BOD tiêu chuẩn được tiến hành trong thời gian ủ 5 ngày để xác định nồng độ BOD5.

BOD5 trong nước thải thủy sản có thể rất cao. Dữ liệu cho thấy từ một đến 72,5 kg BOD5 được tạo ra trên mỗi tấn sản phẩm. Quy trình phi lê cá trắng thường tạo ra 12,5 – 37,5 kg BOD5 trên mỗi tấn sản phẩm. BOD được tạo ra chủ yếu từ quá trình giết mổ và làm sạch nói chung. Còn nitơ có nguồn gốc chủ yếu từ máu trong dòng nước thải.

BOD, COD, TOC, FOG Trong Nước Thải Chế biến Thủy Sản

COD: Nhu cầu oxy hóa học 

Một cách khác để đo hàm lượng hữu cơ của nước thải là nhu cầu oxy hóa học (COD), một thông số ô nhiễm quan trọng trong ngành thủy sản. Phương pháp này thuận tiện hơn BOD5 vì chỉ cần khoảng 3 giờ để xác định so với 5 ngày để xác định BOD5. Phân tích COD bằng phương pháp dichromate thường được sử dụng để kiểm soát và liên tục giám sát các hệ thống xử lý nước thải thủy sản.

Do số lượng các hợp chất có thể bị oxy hóa hóa học nhiều hơn các hợp chất có thể bị phân hủy về mặt sinh học, COD của nước thải thường cao hơn BOD5. Do đó, có mối tương quan giữa BOD5 và COD nên từ phân tích COD, ta có thể ước tính BOD5 của nước thải.

Tùy thuộc vào các loại chế biến hải sản, COD của nước thải có thể dao động từ 150 đến khoảng 42.000 mg/L. Một nghiên cứu đã kiểm tra một nhà máy chế biến cá ngừ và sản phẩm phụ trong năm ngày và quan sát thấy rằng COD trung bình hàng ngày dao động từ 1300 – 3250 mg/L.

TOC: Tổng lượng cacbon hữu cơ

BOD, COD, TOC, FOG Trong Nước Thải Chế biến Thủy Sản

Một cách khác để ước tính hàm lượng hữu cơ là phương pháp tổng lượng cacbon hữu cơ (TOC), dựa trên sự đốt cháy chất hữu cơ thành carbon dioxide và nước trong máy phân tích TOC. Sau khi tách nước, khí đốt được đưa qua máy phân tích hồng ngoại và phản ứng được ghi lại.

Máy phân tích TOC đang được chấp nhận trong một số ứng dụng cụ thể vì thử nghiệm có thể được hoàn thành trong vài phút, với điều kiện là có sự tương quan với BOD5 hoặc COD. Một lợi thế nữa của thử nghiệm TOC là máy phân tích có thể được gắn trong nhà máy để kiểm soát quy trình trực tuyến. Do chi phí thiết bị tương đối cao, phương pháp này không được sử dụng rộng rãi.

FOG: Chất béo, dầu và mỡ

Chất béo, dầu và mỡ (FOG) là một thông số quan trọng khác của nước thải thủy sản.FOG của nước thải chế biến hải sản thay đổi từ 0 đến khoảng 17.000 mg / L, tùy thuộc vào hải sản được chế biến và hoạt động được thực hiện.

Nên loại bỏ FOG khỏi nước thải thủy sản vì nó thường nổi trên bề mặt nước và ảnh hưởng đến việc truyền oxy vào nước và làm mất thẩm mỹ. FOG cũng có thể bám vào ống dẫn nước thải và giảm công suất của chúng trong thời gian dài. Ngoài ra, FOG nhiều làm ức chế vi sinh sinh sôi và họat động, làm ảnh hưởng đến chất lượng nước đầu ra.

Bằng cách bổ sung đều đặn vi sinh xử lý dầu mỡ BioFix, dầu mỡ được hóa lỏng và xử lý để đảm bảo quy trình xử lý nước thải thủy sản vận hành trơn tru hơn.

BOD, COD, TOC, FOG Trong Nước Thải Chế biến Thủy Sản

CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI KỸ THUẬT VĨNH TÂM

Địa chỉ: Số A12/85 Đường 1A, Ấp 1, Xã Vĩnh Lộc B, Huyện Bình Chánh, TP. HCM

VPGD: 240 Võ Văn Hát, Phường Long Trường, TP. Thủ Đức, TP. HCM

Hotline: 0907 771 622 – 0796 155 955 – 0789 377 177 – 0931 791 133

Email: [email protected]

Fanpage: Vĩnh Tâm – Cung cấp giải pháp xử lý môi trường

Youtube: BIOFIX VIỆT NAM

 

0932 884 877