3 cách xử lý bùn vi sinh khó lắng

3 cách xử lý bùn vi sinh khó lắng

Chất lượng nước thải đầu ra sẽ rất kém nếu bể bùn hoạt tính tạo nên loại bùn khó lắng và khó nén. Vì vậy cần xác định nguyên nhân để có biện pháp khắc phục hiệu quả. Bùn vi sinh khó lắng là hiện tượng hay gặp ở bể lắng sinh học, bể hiếu khí. Nguyên nhân là do cấu trúc của bông bùn xốp, nhẹ hình thành do một số loại vi sinh dạng sợi. Vi khuẩn dạng sợi là một trong những nguyên nhân hàng đầu làm cho bùn vi sinh khó lắng, nổi trên bề mặt bể. Để ngăn chặn điều này, cần tìm hiểu về vi khuẩn dạng sợi và có hướng xử lý hợp lý.

3 cách xử lý bùn vi sinh khó lắng

Bùn vi sinh lắng kém

Nguyên nhân gây ra hiện tượng bùn khó lắng

Có 2 nguyên nhân chính tạo nên bùn khó lắng:

  • Sự phát triển quá mức của vi sinh vật hình sợi tạo nên những cấu trúc mạng cho chất rắn bám vào.
  • Nước liên kết làm cho tế bào vi khuẩn trương phồng và giảm trọng lượng riêng.

Nguyên nhân sâu xa của sự cố này là do:

  • Tính chất lý học và hóa học của nước thải đầu vào.
  • Do giới hạn trong quá trình thiết kế.
  • Do quá trình vận hành

Các đặc điểm của nước thải ảnh hưởng đến việc tạo thành bùn khó lắng:

  • Các biến động về lưu lượng
  • pH
  • Nhiệt độ
  • Dưỡng chất và bản chất của các chất nền.
  • Các giới hạn trong quá trình thiết kế bao gồm năng suất cấp khí, thiết kế bể lắng, giới hạn công suất bơm bùn hoàn lưu, đoản mạch và khuấy trộn kém.
  • Các ảnh hưởng do quá trình vận hành bao gồm lưu lượng nạp hữu cơ không đúng, sục khí quá mức quy định hay do sự hiện diện của các độc chất.

Khi nào vi khuẩn dạng sợi phát triển:

3 cách xử lý bùn vi sinh khó lắng

Vi khuẩn Microthrix parvicella

Sự phát triển của vi sinh dạng sợi bị ảnh hưởng bởi các yếu tố:

Thành phần tạp chất trong nước thải.

Chất ô nhiễm dễ phân hủy họ đường (glucose, maltose, lactose) trong nước thải mía đường, chế biến rau quả, tinh bột thúc đẩy sự phát triển của vi sinh dạng sợi. Tạp chất khó phân hủy trong nước thải của công nghiệp hóa chất, hóa dầu, dệt nhuộm, nước thải hỗn hợp ít xuất hiện vi khuẩn dạng sợi.

Nồng độ oxy hòa tan: 

Vi sinh vật nằm phía trong bùn vi sinh cũng cần được cung cấp oxy. Tuy nhiên, vi sinh vật nằm bên trong ít có cơ hội lấy oxy so với vi sinh vật nằm phía ngoài. Nguyên nhân là oxy phải khuyếch tán qua một quãng đường dài hơn từ ngoài môi trường nước vào. Trên quãng đường đi, oxy đã bị sử dụng bởi vi sinh ở phía ngoài hạt keo tụ.

Khi mật độ vi sinh cao, độ ô nhiễm thấp, vi sinh vật ở phía trong bị thiếu và cạn kiệt oxy. Vi sinh vật dạng sợi có khả năng hấp thụ oxy tốt hơn các vi sinh khác. Do cơ thể dài, tỉ lệ diện tích so với thể tích của chúng lớn hơn các dạng khác. Chúng có khả năng thu nhận oxy ngay cả khi nồng độ oxy thấp hơn 0,1mg/l. Thông thường, các chủng loại vi sinh khác không có khả năng đó.

Vi sinh vật dạng sợi là loại sống dai trong môi trường khắc nghiệt, thiếu thốn. Vì vậy nên hiện tượng bùn vi sinh khó lắng dễ xảy ra khi thiếu thiếu oxy. Ở hình trên đây, bể sục khí có DO là 3,7, không có hiện tượng bùn vi sinh khó lắng.

Cách xử lý bùn vi sinh khó lắng: 

Bổ sung các chủng vi sinh có khả năng cạnh tranh vi khuẩn sợi: 

Việc sử dụng các chủng vi sinh có khả năng cạnh tranh vi khuẩn sợi. Vi sinh tốt phát triển mạnh sẽ áp đảo vi sinh dạng sợi, cân bằng hệ vi sinh. Khi cấy vi sinh nên lưu ý là vi khuẩn sợi rất mạnh vì vậy phải tạo môi trường tốt cho vi sinh mới cấy. Môi trường tốt là pH duy trì 7, DO >2mg/L và tỉ lệ C:N:P – 100:5:1. Nếu đạt được yếu tố môi trường như trên thì có thể giảm bùn khó lắng trong 2-3 tuần.

Dòng vi sinh được lựa chọn nhiều là vi sinh hiếu khí . Đây là dòng vi sinh dạng bột mật độ rất cao 5 tỷ vi khuẩn trong 1g. Bạn dùng từ 5-10gram/m3 nước thải, cấy từ 3-5 ngày để khôi phục hệ vi sinh.

Đảm bảo nguồn dinh dưỡng nito, phốt pho: 

Để không xảy ra hiện tường bùn vi sinh khó lắng, nồng độ amoni và phôthat tan tối thiểu là 1,5mg/l và 0,5mg/l trong nước thải sau xử lý

Đảm bảo sục khí đầy đủ

Bạn cần đảm bảo hệ thống sục khí làm việc tốt để đủ oxy cung cấp cho các vi sinh phía trong bông bùn. Mức 2-3.5 là tối ưu. Tuy nhiên oxy không nên cao quá vì khuấy trộn liên tục làm bông bùn không lắng được.

Bổ sung men vi sinh Biofix xử lý vi khuẩn dạng sợi

3 cách xử lý bùn vi sinh khó lắng

 

Men vi sinh Biofix được sản xuất với công nghệ tiên tiến của Mỹ, có mật độ vi sinh rất cao 5 tỷ/ gram. Vi sinh ở dạng bào tử sau khi được nuôi cấy sẽ phát triển nhanh chóng, xử lý hiệu quả các vi khuẩn dạng sợi. Thúc đẩy nhanh quá trình phân hủy các chất hữu cơ phức tạp, giảm mùi hôi. Nên khắc phục hiệu quả tình trạng bùn khó lắng của nước thải.

Dạng: bột
Xuất xứ: Mỹ

Thành phần nước thải: Nước thải chứa nhiều các nguyên tố dạng vết cũng gây ra hiện tượng bùn tạo khối. Đối với nước thải công nghiệp, thành phần Nitơ và Photpho cần được kiểm tra trước khi đưa vào hệ thống xử lý, sự thiếu hụt dinh dưỡng trong nước thải công nghiệp với hàm lượng BOD cao sẽ tạo nên khối bùn. Sự dao động pH cũng là yếu tố gây bất lợi đối với thiết kế. Sự khác nhau về tải trọng khi vận hành hệ thống hoạt động một mẻ cũng gây ra hiện tượng bùn tạo khối.

Nồng độ oxy cần duy trì 2mg/l.
Thời gian lưu bùn (SRT): Cần được kiểm tra và tính toán sao cho nằm trong khoảng giá trị chấp nhận được. Trong nhiều trường hợp, ở các hệ thống khuấy trộn hoàn toàn với thời gian lưu bùn lớn và tỉ số F/M nhỏ thường xuất hiện vi khuẩn dạng sợi. Ở những hệ thống như vậy, các vi khuẩn này hay cạnh tranh nhau về thức ăn. Nhiều nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cùng với các mô hình hoàn chỉnh đã đưa ra những hình dạng bể phản ứng hỗ trợ cho bùn tạo bông thay vì sự phát triển các vi khuẩn dạng sợi. Những bể này được gọi là selector.

Nồng độ dinh dưỡng: Mặc dù liều lượng dinh dưỡng cần để ngăn chặn sự phát triển quá mức của các vi khuẩn dạng sợi là duy nhất ở từng hệ thống, tuy nhiên khi không thể xác định chính xác được con số này thì theo Richard nên duy trì:

+ Nồng độ N vô cơ (NH4 _N, NO2 _ N, NO3 _N ) lớn hơn 1mg/l.
+ Nồng độ orthophosphate photpho (PO43-_P) lớn hơn 0.2mg/l.

pH: Là một thông số kỹ thuật quan trọng của bùn hoạt tính nhưng lại thường xuyên bị lờ đi do giá trị của nó thường chỉ thay đổi ở 2 mức. Vi sinh vật chỉ bị ảnh hưởng khi pH nhỏ 6.0-6.5 và lớn hơn 8.5. để tránh tình trạng phát triển quá mức của nấm do pH thấp, cần trang bị các thiết bị điều chỉnh pH, tối thiểu cũng phải có thiết bị định liều lượng vôi.

Nhiệt độ ảnh hưởng đến 2 thông số sau:
+ Nhiệt độ tăng làm giảm độ hoà tan của oxy trong nước
+ Nhiệt độ tăng làm tăng tốc độ của quá trình chuyển hoá.
Quá trình này lại cần oxy hoà tan nên tốc độ tiêu thụ DO cũng tăng. Vì vậy, nhiệt độ chỉ ảnh hưởng chủ yếu đến sự phát triển của những vi khuẩn dạng sợi do DO thấp như Sphaerotilus natans và loài 1701. Richard đã chạy mô hình khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ lên sự phát triển cạnh tranh giữa loài 1701 và một loại vi sinh vật tạo bông. Từ đó đưa ra kết luận rằng ở nhiệt độ lớn hơn hoặc bằng 280C, loài 1701 phát triển mạnh hơn loài tạo bông đang nghiên cứu. Như vậy ta có thể rút ra kết luận rằng nhiệt độ tăng thì nồng độ DO cần phải tăng để ngăn quá trình bùn khối gây ra do các vi khuẩn dạng sợi phát triển trong nước có DO thấp.

Tìm hiểu nhanh: Xử lý vấn đề bùn nổi trở lại trong nước thải

0932 884 877