Ruồi có những loại nào?

mot con ruoi voi mau xanh anh kim

Người ta thường gặp ruồi trong nhà, chuồng trại chăn nuôi hoặc các cơ sở sản xuất tại Việt Nam. Một số loài thường gặp hơn các loài khác và bị thu hút với nhiều môi trường phù hợp với thói quen tự nhiên và vòng đời của chúng. Biết về kích thước, thói quen, mùa và vòng đời của các loài ruồi, có thể giúp nhận biết các phương pháp kiểm soát ruồi hiệu quả nhất.

1. Ruồi giấm

Ruồi giấm (hay còn gọi là ruồi trái cây), giống như tên gọi của chúng, ruồi giấm chủ yếu ăn trái cây và các chất đường khác. Chúng bị thu hút bởi men của các nguyên vật liệu thực vật thối rửa. Nhựa cây, trái chín nẫu và nấm là những nguồn thức ăn của chúng. Loài ruồi giấm phổ biến tấn công và đâm thủng lớp vỏ của trái cây chín nẫu và rau quả để đẻ trứng và ăn.

Đặc điểm:

  • Dài 3 – 4mm.
  • Màu nâu vàng hay có vằn.
  • Mắt đỏ tươi.
  • Bụng hạ xuống thấp khi bay, chậm.
  • Có xu hướng bay lượn.

Vòng đời:

  • Chúng có thể sinh sản trong trái cây thối, rãnh dơ bẩn và thậm chí trong các giẻ lau chùi.
  • Phát triển thành ruồi trưởng thành trong 7 – 30 ngày.
  • Con trưởng thành sống từ 2 – 9 tuần.
  • Trong điều kiện nhiệt độ lý tưởng, ruồi trái cây có thể hoàn thành giai đoạn phát triển chỉ trong vòng 1 tuần.

2. Ruồi cống

Ruồi cống (ruồi cánh bướm) thường đậu vào bề mặt tường nhà tắm, gần nắp cống thoát nước hoặc nơi chúng sinh sản. Chúng có thể tìm thấy ở bất kỳ vật chất hữu cơ đang phân hủy hoặc rác thải gắn liền với nước như cống thoát nước, nắp cống, nhà tắm, tầng hầm,…

Đặc điểm:

  • Dài 2 mm.
  • Thân có màu xám.
  • Cả thân và cánh được bao phủ các lớp lông dài và giữ tư thế như cái lều trên cơ thể khi đậu.
  • Nhiệt độ thích hợp phát triển: 25 -300C

3. Nhặng xanh

Nhặng xanh là loài ruồi bay phát ra tiếng vo ve khó chịu và là loài ăn xác thối thường xuất hiện gần các loại thịt hoặc chất hữu cơ trong tình trạng phân hủy (đặc biệt thường thấy với số lượng lớn  gần các khu vực giết mổ gia súc, nhà máy chế biến thịt và các bãi rác.) Chính vì vậy chúng là sinh vật trung gian truyền nhiễm bệnh dịch và được xếp vào loài côn trùng dịch hại

Chúng thường đẻ trứng ở những khu vực dơ bẩn như: bãi rác, thịt hoặc rau quả thối rửa, các loài thủy sản, cá ở chợ,…

Đặc điểm:

  • Con trưởng thành dài 6 – 13mm.
  • Màu xanh ánh kim (xanh dương hay xanh lá cây).
  • Mắt màu đỏ, cánh trắng có đường vân màu đen.
  • Nhặng rất khỏe, năng động và hoạt động trong khoảng nhiều km cách nơi sinh sản.

Vòng đời:

  • Trứng nở từ 0 – 18 tiếng (một phần có thể phát triển ngay trong bụng ruồi cái).
  • Sinh sản trong các chất có gốc thịt, đôi khi là phô mai.
  • Loài côn trùng dịch hại thường gặp ở các xác chết của chim, chuột, v.v.

4. Ruồi nhà 

Ruồi nhà là một trông những loài côn trùng phổ biến nhất trên hành tinh. Chúng sinh sản trên rác, phân, thức ăn thối rửa và hư hỏng và đây cũng là nguồn thức ăn của chúng. Vì thế chúng mang nhiều vi khuẩn, nấm, virus và sau đó lây lan các mầm bệnh này bằng cách làm ô nhiễm thức ăn và nước uống.

Đặc điểm:

  • Con trưởng thành dài 5-8 mm.
  • Ngực màu xám có 4 sọc nhỏ.
  • Bụng màu da bò hay vàng.
  • Phủ đầy lông nhỏ đóng vai trò là cơ quan vị giác.
  • Mắt kép phức tạp – với hàng ngàn thấu kính giúp ruồi có một trường quan sát rộng.
  • Gân cánh thứ 4 cong và đầu cánh hơi nhọn.
  • Ấu trùng có màu trắng và nhỏ dần thành một mũi nhọn ở cuối phần đầu. Có hai “điểm” lỗ thở ở phía đằng sau, không chân và dài 12 mm khi trưởng thành.

Vòng đời:

Ruồi nhà có khả năng trưởng thành nhanh từ trứng đến ruồi trưởng thành.

  • Trứng được đẻ thành các mẻ từ 120 đến 150 trứng và có thể nở trong vòng 8 – 72 tiếng.
  • Ấu trùng Ruồi nhà có thể mất 3 – 60 ngày để trưởng thành.
  • Nhộng trưởng thành trong 3 – 28 ngày.
  • Khi đã vào trong nhà, ruồi nhà có thể đậu trên tường, sàn nhà hay trần nhà. Ở ngoài trời chúng ở trên cây, mặt đất, hàng rào, đống phân trộn và thùng rác.
  • Vào ban đêm, chúng thích nghỉ ngơi gần các nguồn thức ăn cách mặt đất từ 1,5 đến 4,5 m.

5. Ruồi xám

Ruồi xám (hay còn gọi là ruồi thịt) là thường tìm được ở các khu vực nhiệt đới ấm áp. Ruồi xám bị hấp dẫn với chất thải thối rửa, thức ăn của người hoặc phân – gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, động vật.

Đặc điểm:

  • Kích thước con trưởng thành: 9-13mm
  • Màu xám nhạt và có ba sọc đen trên ngực
  • Con đực có nhiều lông hơn con cái

Vòng đời:

  • Vòng đời kéo dài từ 2-4 tuần.
  • Trứng trải quá quá trinh phát triển đầy đủ và nở ra bên trong ruồi cái.
  • Ruồi cái ký sinh ấu trùng trực tiếp lên vật chủ (từ thịt hay cá hư, xác hay phân động vật, rác thải thực phẩm hư thối có trong thùng rác) và bắt đầu kiếm ăn ngay lập tức.
  • Ấu trùng ăn  và phát triển nhanh chóng sau vài ngày, sau đó di chuyển ra khỏi môi trường có thức ăn để phát triển thành nhộng ở các khu vực khô hơn bên cạnh.

6. Ruồi trâu

Ruồi trâu là một loài gây hại cho gia súc. Những vết cắn không ngừng của ruồi cái có thể dẫn đến giảm cân ở một số loài vật. Ruồi trâu đực chủ yếu ăn phấn hoa và mật hoa và hoạt động vào ban ngày. Vết cắn của ruồi trâu có thể rất đau đối với con người. Chúng có phần miệng giống như con dao thu nhỏ mà chúng dùng để rạch da bằng một chuyển động như cây kéo.

Đặc điểm:

  • Con trưởng thành có thể dài đến 25 mm.
  • Màu đen đến nâu sẫm có mắt xanh lá cây hay đen.
  • Con đực có mắt tiếp giáp nhau, là đặc điểm khiến dễ phân biệt với con cái có mắt cách xa nhau.
  • Vết cắn của ruồi trâu có thể rất đau.

Vòng đời:

  • Giao phối bắt đầu trên không và kết thúc trên mặt đất, nơi con cái sau đó đẻ một khối trứng đôi khi có chất bài tiết bóng hay trắng như phấn, hỗ trợ giữ nước.
  • Trứng được đẻ thành các khối có từ 100 đến 1000 trứng trên một bề mặt thẳng đứng treo trên mặt nước hay nền đất ướt thuận lợi cho ấu trùng phát triển. Trứng nở trong vòng 5-7 ngày. Chúng ngủ đông trong giai đoạn ấu trùng và phát triển thành nhộng vào mùa xuân và đầu mùa hè.
  • Vòng đời của con trưởng thành là 30 đến 60 ngày.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0931.791.133