Xử lý nước thải ngành giấy tái chế

tai che

Giới thiệu về ngành sản xuất giấy tái chế:

Như chúng ta đã biết, công nghiệp sản xuất giấy tái chiếm vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ khác, nhu cầu về các sản phẩm giấy ngày càng tăng, thu hút nhiều lao động tham gia, chính vì vậy ngành công nghiệp này không thể thiếu được trong đời sống của người dân.

Bên cạnh những lợi ích mà ngành Sản xuất Giấy tái chế mang lại, thì ngành này cũng là một ngành phát sinh lượng nước thải lớn, với nhiều thành phần ô nhiễm khác nhau do sử dụng nhiều nước và hoá chất (hồ, phủ, chất độn, và phụ gia) trong quá trình sản xuất. Nguồn nước thải này có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường nếu như không được xử lý phù hợp.

giay tai che

Quy trình sản xuất giấy tái chế:

quy trinh giay tai che

Đặc điểm, tính chất nước thải ngành giấy tái chế:

  • Nước thải chứa hàm lượng COD, BOD và SS cao do lượng lớn bột giất bị nghiền nát, đánh rã và không thu hồi hết quá trình sản xuất.
  • Trong quá trình sản xuất, khâu tẩy màu giấy cũng tạo ra độ màu khá cao, khó xử lí.
  • Các chất độn và phụ gia được trộn vào bột giấy trước khi SEO giấy gồm các polimer, muốn CaCO3, Na2CO3, … làm cho nước thải có độ cứng rất cao, các muối dễ đóng rắn, khó xử lí và gây ảnh hưởng máy móc, thiết bị.
  • Lưu lượng nước thải mỗi ngày rất lớn, việc điều tiết vận hành xử lí phải thực hiện liên tục và đảm bảo an toàn tuyệt đối ở các công đoạn. Vì chỉ cần 1 khâu xử lí không tốt là ảnh hưởng toàn hệ thống.

Lượng muối đóng rắn trong đường ống dẫn nước thải tái chế giấy

Thành phần nước thải giấy tái chế:

 STT Thông số  Đơn vị

 Giá trị

QCVN 40:2011 BTNMT, Cột A

1 pH 6-7,5 6 – 9
2 Màu Pt-Co 700 – 1400 50
3 COD mg/l 6.500 – 10.000 75
4 BOD mg/l 3.500 – 5.000 30
5 TSS mg/l 700 – 1.800 50
6 Nito tổng mg/l 5 – 10 20
7 Phốt pho tổng mg/l 2 – 5 4

Công nghệ xử lí nước thải ngành giấy tái chế:

Thuyết minh công nghệ xử lí:

Nước thải từ hoạt động sản xuất sẽ được thu gom về bể thu gom bằng hệ thống mương và ống dẫn. Trên mương dẫn về bể thu gom có lắp đặt song chắn rác.  Tại đây rác sẽ được giữ lại và nhân viên vận hành sẽ thug om định kì.

     Tại bể thu gom, nước thải được bơm sang bể điều hòa. Bể điều hòa có chức năng điều hòa lưu lượng và nồng độ của nước thải, tránh tình trạng bị quá tải vào giờ cao điểm, sốc tải hệ thống. Giúp nước thải được ổn định, đảm bảo hiệu quả xử lý cho các công trình phía sau.

     Từ bể điều hòa, nước thải sẽ bơm qua thiết bị tuyển nổi. Bể tuyển nổi có tác dụng tách các hạt cặn, bột giấy mịn trong dòng thải nhờ vào các vi bọt khí được tạo ra khi cấp khí vào bình tích áp, tại áp suất thấp, không khí được tạo thành sẽ có kích thước li ti, sau đó hỗn hợp nước và vi bọt khí sẽ được cấp chung vào ống dẫn nước từ bể điều hòa sang bể tuyển nổi, các vi bọt khí sẽ di chuyển từ phía dưới lên, kéo theo các hạt cặn, bột giấy mịn lên trên mặt nước, tạo thành lớp váng bọt, thiết bị thu bùn bể mặt sẽ thu gom về bể chứa bùn. Để tăng kích thước hạt cặn, tăng hiệu suất của quá trình tuyển nổi, châm hóa chất trợ keo tụ và trợ tạo bông để hình thành các bông cặn có kích thước lớn, giúp các vi bọt khí dễ kéo lớp bông cặn lên mặt nước. Nước sau quá trình tuyển nổi sẽ chảy sang bể trung gian để điều chỉnh pH và bơm vào bể sinh học kị khí UASB.

     Bể UASB (Upflow Anaerobic Sludge Blanket) là một dạng bể kị khí với dòng nước phân phối từ đáy lên dựa vào áp lực của bơm phân phối đầu vào thông qua hệ thống phân phối nước dưới đáy bể. Công nghệ UASB với các chủng vi sinh kị khí đảm bảo hiệu quả xử lý chất ô nhiễm luôn ở mức cao, lượng bùn sản sinh ra ít, sản phẩm thứ cấp là khí metan có thể tận dụng làm khí đốt cho một số hoạt động của nhà máy. 4 quá trình cơ bản trong xử lý sinh học kị khí gồm:

  • Giai đoạn 1: Thủy phân, cắt mạch các hợp chất cao phân tử thành các hợp chất hữu cơ đơn giản hơn.

Trong quá trình phát triển, dưới tác dụng của enzyme được tạo ra bởi các loại vi khuẩn kị khí thì các hợp chất hữu cơ, phức chất polysaccharides, proteins, lipids sẽ chuyển hóa thành các hợp chất hữu cơ đơn giản hơn hoặc các chất hòa tan như: đường, các amino acid, acid béo, … Quá trình này xảy ra chậm. Tốc độ thủy phân phụ thuộc vào pH, kích thước hạt và đặc tính dễ phân hủy của cơ chất.

  • Giai đoạn 2: Axít hóa các hợp chất hữu cơ đơn giản đã tạo thành ở giai đoạn 1

Vi khuẩn lên men chuyển hóa các chất hòa tan thành chất đơn giản như acid béo dễ bay hơi, CO2, H2, NH3, H2S, acid lactic, methanol, và sinh khối mới. Sự hình thành các axit có thể làm pH giảmxuống đến 4.0.

  • Giai đoạn 3: Giai đoạn Acetat hóa.

Trong quá trình lên men, chỉ có các sản phẩm Axit acetat bị vi khuẩn tạo metan sử dụng trực tiếp, các hợp chất khác cần nhiều thời gian để phân hủy thành các chất đơn giản hơn.

  • Giai đoạn 4: Metan hóa. Giai đoạn này chuyển từ sản phẩm đã meta hóa thành khí (CH4và CO2) bằng nhiều loại vi khuẩn kỵ khí.

CH3COOH = CH4 + CO2

2C2H5OH + CO2 = CH4 + 2CH3COOH

CO2 + 4H2 = CH4 + 2H2O

     Sau đó, tiếp tục quá trình xử lý hiếu khí Aerotank. Bể Aerotank có tác dụng xử lý chất hữu cơ, BOD, COD, dựa vào các chủng vi sinh vật hiếu khí tại pH khoảng 7.0 và DO >=2; Không khí được cấp vào thông qua hệ thống phân phối khí, có tác dụng đảm bảo nồng độ Oxy hòa tan và giúp duy trì điều kiện đảo trộn trong bể, tăng hiệu quả xử lý chất ô nhiễm.

       Bùn và nước sẽ được tách rời thông qua bể lắng sinh học. Phần bùn lắng đọng phía dưới rốn thu bùn sẽ được bơm tuần hoàn về bể Aerotank, nhằm duy trì lượng cơ chất và bùn nền thích hợp, đảm bảo hiệu quả xử lý. Phần nước trong sẽ chảy sang bể keo tụ – tạo bông.

Tại bể phản ứng keo tụ, hóa chất keo tụ (PAC) và chất điều chỉnh pH (acid hoặc NaOH) được châm vào bể với liều lượng nhất định và được kiểm soát chặt chẽ bằng các thiết bị điện tử. Dưới tác dụng của hệ thống cánh khuấy với tốc độ lớn được lắp đặt trong bể, các hóa chất được hòa trộn nhanh và đều vào trong nước thải. Trong điều kiện môi trường thuận lợi cho quá trình keo tụ, pH khoảng 6.5 – 7.5, hóa chất keo tụ và các chất ô nhiễm trong nước thải tiếp xúc, tương tác với nhau, hình thành các bông cặn nhỏ li ti trên khắp thể tích bể. Hỗn hợp nước thải này tự chảy qua bể tạo bông.

Chất keo tụ được cho vào trong nước thải mang điện tích dương, bao gồm phèn nhôm, phèn sắt và các loại Polymer cao phân tử khác tạo nên hệ keo mang điện tích dương. Chất trợ keo tụ là các Polymer âm phối hợp với hệ keo mang ion dương giúp cho các bông cặn kết kính lại với nhau trở nên to và nặng hơn. Như vậy, quá trình lắng các bông bùn xảy ra nhanh hơn.

Tại bể keo tụ tạo bông, hóa chất trợ keo tụ (Polymer) được châm vào bể với liều lượng nhất định. Dưới tác dụng của hóa chất này và hệ thống motor cánh khuấy với tốc độ chậm, các bông cặn li ti từ bể phản ứng sẽ chuyển động, va chạm, dính kết và hình thành nên những bông cặn tại bể keo tụ tạo bông có kích thước và khối lượng lớn gấp nhiều lần các bông cặn ban đầu, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lắng ở bể lắng. Hỗn hợp nước và bông cặn hữu dụng từ chảy sang bể lắng hóa lý.

Nước và bông cặn chuyển động qua vùng phân phối nước đi vào vùng lắng của bể lắng theo phương pháp lắng trọng lực. Khi hỗn hợp nước và bông cặn đi vào bể, các bông bùn va chạm với nhau, tạo thành những bông bùn có kích thước và khối lượng lớn gấp nhiều lần các bông bùn ban đầu. Các bông bùn này, sẽ có khối lượng riêng lớn hơn nước nên tự lắng xuống tại vùng chứa cặn của bể lắng. Nước sạch được thu ở phía trên máng răng cưa bể lắng và chảy vào bể trung gian.

      Tại bể trung gian, bơm nước thải sẽ bơm qua bồn lọc áp lực rồi ra ngoài theo cống xả thải.

   Nước sau xử lí sẽ thải ra nguồn tiếp nhận, đảm bảo chất lượng nước sau xử lý đạt cột A, QCVN 40:2011/BTNMT.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0931.791.133